Thành lập - 1626

Loại sự kiện
Thành lập
Năm/tháng
1626
Mô tả

Thông tin cơ bản
Giới thiệu chung
Làng Vân – tên chữ là Yên Viên hay An Viên thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Thời Lê, Yên Viên là lỵ sở của huyện Yên Việt, trấn Kinh Bắc, sau đó là của phủ Thiên Phúc.

Đây là một làng cổ nằm trên bãi bồi rộng lớn của sông Cầu (còn gọi là sông Như Nguyệt). Phía Bắc của làng có dãy núi Tiên Lát (Bổ Đà) chắn ngang từ tây sang đông. Dòng sông cầu hiền hòa chảy từ bắc xuống nam bao quanh làng như một vành đai ngọc tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình.

Chùa Làng Vân – tên chữ là Diên Phúc tự. Đây một danh lam cổ tích của xứ Kinh Bắc – nay thuộc huyện Yên Viên, tỉnh Bắc Giang. Chùa nằm ở khu trung tâm (phía trước) làng Vân, quay mặt về hướng tây, nhìn ra bến sông sang làng Đại Lâm (Yên Phong – Bắc Ninh).

Lịch sử hình thành
Theo tài liệu bia dựng chùa “Diên Phúc tự chung các điền bi ký” có niên đại Đức Long thất niên bát nguyệt – cốc nhật 1635 có ghi.

Phiên âm: “Nguyên cổ tích trịnh tưởng quân, danh lam Diên Phúc Tự, thổ trạch chi điển tấn độ lưỡng biên giang chí An Phong huyện đê lộ tam đoạn chẽ đồng tròn xứ tam bảo điền”.

Tạm dịch: Nguyên chùa Diên Phúc xưa là một danh lam do Trịnh Tướng quân khởi tạo, có ruộng đất ao vườn từ hai bên bờ sông đến đò, lên ngã ba đường đê đến xứ đồng Tràn (thuộc huyện An Phong) là đất của tam bảo.

Tấm bia “Trịnh tướng quân sự tích” không có niên đại ghi duệ hiệu chỉ ghi “Tiền triều phụ quốc thượng tưống quân Trịnh tướng Công… ngụyên Thanh Hoá nhân…

Trịnh tướng quân hoàn Yên Viên xã, dĩ truyền nho giáo giả… Theo tấm bia này thì Trịnh tướng quân là người Thanh Hoá, làm quan thời Lê sau về Yên Viên dạy học, truyền đạo, có làm một am nhỏ để thờ Phật, thiêu hương trên khu đất hai bên bờ sông, bến đò lên ngã ba đường đê đến xứ đồng Tràn thuộc huyện An Phong. Được mọi người kính mộ, sinh đồ ngưỡng vọng gọi tiên sinh là quan huấn học; Tháng 8 năm Canh Dần thì xây dựng hoàn hảo 28 gian chùa và đặt tên là “Diên Phúc tự”. Sau khi mất, mộ chôn tại bản xã, gần chùa Quảng Lâm.

Sau khi Trịnh tướng quân mất, nhà vua ban sắc phong thần hiệu. Nhân dân ở đây lập đền thò ngay cạnh tam quan chùa gọi là đền Trung.

Cũng trong tấm bia ghi làm gác chuông chùa Diên Phúc có khắc: các quan viên lớn nhỏ xã thôn cùng các tín đồ sãi vãi thu góp tiền của từ năm Canh Ngọ đến năm Tân Mùi đúc chuông, xây đắp trong chùa. Năm Nhâm Thân lại làm gác chuông. Tiền của mọi người công đức nhiều nên tháng 11 năm ấy (1630-1631 đến tháng 11/1632) xây tiếp một toà tam bảo nữa. Còn trong tấm bia “Diên Phúc tự tạo khai càn sở lập bia ký” có niên hiệu Khánh Đức Tam niên 1651 khắc “năm Canh Dần lại hưng công, sãi vãi, nhân dân đã đóng góp tiền của mua thêm ao vườn cống vào chùa làm của tam bảo, xây dựng một nhà tiền môn và hai dãy hành lang cộng là 28 gian nguy nga lộng lẫy. Năm Chính Hoà thứ 5 (1687) bản tự, sãi vãi trong làng lại đóng góp tiền của mua gỗ lim làm toà hậu đường. Năm 1688 xây tam quan. Tới năm Chính Hoà thứ 25 (1704) sư cụ ở chùa là Nguyễn Pháp Lộc tương phúc Đương phổ Minh Thiền sư lại làm thềm đá nhà tiền đường và tam quan. Năm Chính Hoà thứ 7 (1686) một người lập hậu, cúng vào chùa 44 sào ruộng.

Năm 1707 đắp tượng La Hán. Năm thứ 10 (1714) tạc tượng đá hậu chùa. Năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716) tạc cây hương đá. Năm Vĩnh Thịnh thứ 15 (1719) lại tạc cây hương đá nữa.

Như vậy, từ năm Vĩnh Tộ thứ 8 (1626) đến năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), trải qua 81 năm liên tục xây dựng, tu bổ, ngôi chùa mới được hoàn hảo. Biết bao công sức, tiền của bỏ ra trong suốt 8 thập kỷ mối tạo dựng được một công trình kỳ vĩ như vậy.

Cùng với thời gian, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, mưa nắng, bão lụt, ngôi chùa lại bị xuống cấp. Tới năm 1949, dân làng lại phải trùng tu, bỏ hết đao tầu kẻ góc, cắt nối chân cột nâng Phật điện lên. Và để tồn tại đến hôm nay, chùa Diên Phúc còn phải qua rất nhiều lần tu sửa nữa. Năm 1989, được sự quan tâm của ngành văn hóa, toàn thể nhân dân làng Vân lại xây lại tam quan có gác chuông bề thế, dựng lại bia ở sân trưởc cửa chùa thành 2 dãy với 100 chiếc.

Kiến trúc
Chùa Diên Phúc được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” hoành tráng với kiểu dáng đặc sắc, điêu khắc tinh xảo.

Tam quan chùa cao hơn 7m, rộng 11m có 3 cửa vòm cuốn. Cửa Phật chính bằng gỗ lim bóng lóng rộng 11m, cao gần 3m trên chạy chữ thọ dưới ngũ phúc kênh bong, tả hữu hai bên là cửa pháp, cửa tăng rộng mở đón khách hành hương lễ Phật.

Qua tam quan là một sân rộng. Trước cửa tiền đường, tam bảo rợp bóng cây xanh. Hơn 100 tấm bia được xếp đặt đều tăm tắp chạy dài đến cửa tiền đường với nhiều dáng vẻ: cái có mái, cái để không, có bia tứ diện, lại có bia 2 mặt, 1 mặt, cái to, cái nhỏ, cái bằng đá xanh, cái là đá đỏ… tất cả uy nghi tĩnh tại. Cả một “rừng bia” nhắc nhở mọi người đến vãng cảnh nơi đây nhớ về lịch sử “Danh lam Diên Phúc tự” như tấm bia dựng năm Khánh Đức thứ 13 (1651) đã khẳng định:

Đệ nhất Kinh Bắc

Thập nhị xứ thừa tuyên

Tiền đường 7 gian có mái chồng cao rộng nối liền thượng điện 3 gian với cả thế giới chư phật sơn thếp vàng son, uy nghi mỹ lệ. Với kiểu kiến trúc con chồng đấu kê, nối đầu cột cái giúp cho tiền đường nâng được chiều cao mà vẫn vững chắc, khác hẳn với những ngôi chùa cùng thế hệ. Tiền đường được kết cấu thượng tứ hạ ngũ với 8 vì kèo, mỗi vì 4 hàng chân cột, sừng sững uy nghi khiến cho tiền đường thoáng rộng, khoáng đại mà dung dị, thế hiện lòng bao dung nhân từ của phật đối với con người. Ở đây ta còn thấy 3 bức côn trước được tạo tác tinh xảo thể hiện sự tài khéo tuyệt vời của các nghệ nhân cổ với các đề tài “Cửu long tranh châu”, “Tiên múa”, “Rồng mẹ vờn con”… trong đó hình tượng con rồng thể hiện nhiều nghệ thuật thời Mạc. Đặc biệt hình mây mui mác (mây lửa) xuất hiện khá sớm ở đây.

Qua tiền đường, ta gặp hai dãy hành lang, mỗi dãy 5 gian được kết cấu con chồng giá chiêng, kê đấu hoa sen. Hai dãy tượng mỗi dãy 6 vị La Hán ở các tư thế khác nhau. Cuối 2 dãy hành lang là nhà chung đường cũng kết cấu thượng con chồng, hạ kẻ chàng, thượng tứ hạ ngũ, có đấu kê hoành với 4 hàng chân, mỗi hàng 8 cột được xếp đều tăm tắp và nối thêm hàng cột hiên bằng kiểu kèo cổ ngỗng khiến chung đường thoáng rộng, thuận tiện cho việc hành lễ, thuyết pháp, hội họp.

Cùng với vẻ đẹp hài hòa giữa cảnh quan ngoại thất với kết cấu nội thất là vẻ đẹp uy linh của tuyến tượng trên thượng điện và lớp lớp hoành phi câu đối, được sơn thếp rực rỡ. Tất cả đều là những tác phẩm điêu khắc tuyệt vời của các nghệ nhân cổ – nghệ thuật điêu khắc gỗ thế kỷ XVII.

Toà hậu đường cao hơn thượng điện cũng năm hàng chân cột, kèo cổ ngỗng, kết cấu thượng con chồng, hạ giá chiêng, kẻ chàng chắc khoẻ vững chãi làm nhà tổ thờ các vị sư trụ trì ở chùa này.

Với sô lượng đồ sộ, chùa Vân hiện còn lưu giữ 102 tấm bia các loại, 2 pho tượng đá, 3 rùa đá, 3 pho tượng đồng, 1 đỉnh, 1 chuông, 1 bát hương, 1 cây đèn bằng đồng và hàng trăm hiện vật là tượng gỗ cổ, mâm bồng, cây nến, chấp kích, hoành phi câu đối bằng gỗ được sơn thếp rực rỡ cùng hàng trăm hiện vật sành sứ khác. Đó thực sự là những di vật quý hiếm, có giá trị về nhiều mặt trong việc nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, tôn giáo, văn hóa dân gian, điêu khắc nghệ thuật.

Lễ hội
Hàng năm, vào ngày 17 tháng giêng âm lịch, là hội thượng nguyên. Nhân dân các làng xã bên cạnh đến lễ chùa rất đông. Các bà, các chị mặc quần áo đẹp sắm sửa lễ vật ra chùa làm lễ cầu mát, cầu phúc lộc, mong cho một năm mới được mọi sự tốt lành. Ngoài việc tế lễ, hội chùa Vân còn có các hình thức khác như hát quan họ, làm trò nhà Phật và một số trò chơi rất vui nhộn.

Chùa làng Vân (Diên Phúc tự) thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên đã được người xưa ví như một khóm hoa lan ở trấn Kinh Bắc: với kiểu kiến trúc hoành tráng, sự chạm khắc tinh tế, bố cục nội ngoại thất hoàn hảo, cộng với số lượng hiện vật phong phú, đặc biệt là hơn một trăm tấm bia đá, cùng với hàng chục pho tượng gỗ cổ ở chùa Vân là những di vật rất quý hiếm, có giá trị về nhiều mặt giúp cho việc nghiên cứu khoa học, lịch sử, kiến trúc, tôn giáo, văn hóa dân gian, điêu khắc nghệ thuật…

Chùa Diên Phúc hôm nay và sau này vẫn sẽ mãi là một “danh lam cổ tích” rất đáng tự hào của người dân xứ Bắc và mỗi con người Việt Nam.

Chùa làng Vân – Diên Phúc tự đã được Nhà nưốc xếp hạng là di tích kiến trúc – nghệ thuật theo quy định 34 VH/QĐ ngày mồng 9 tháng 1 năm 1990.

Tài liệu tham khảo

Theo Nguyễn Thu Minh, chùa Cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
Vũ Ngọc Khánh

Cơ sở liên quan
Chùa Làng Vân (Tôn giáo)